TĂNG NI VIỆT NAM HẢI NGOẠI
CHÙA KHÁNH ANH
14 Av Henri Barbusse. 92220 Bagneux (FRANCE)
Tél : 01 46 55 84 44. Fax : 01 47 35 59 08.
E-mail: khanhanh@free.fr
Lá Thư Thứ Hai Về Ngày Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư
(tức Ngày Về Nguồn lần thứ 4 tổ chức tại Âu Châu)
Kính gởi chư Tôn Đức Tăng Ni
Kính gởi các Giáo Hội, các Tự Viện, các Chùa
chư Phật tử nam nữ, Ban Hướng Dẫn và các Gia Đ́nh Phật tử trong vùng Âu châu.
Kính thưa quư vị,
Sau khi lá thư thứ Nhất (về Ngày Hiệp Kỵ) gởi đi, như quư vị đă tiên đoán trước: thế nào cũng có nhiều tiếng nói phản đối. Đúng vậy. Nhưng tất cả những phản đối gởi về đều không có ǵ khác hơn với lối hành xử lâu nay. Từ cách lư luận cho tới kiểu hành văn đều cho thấy chưa có một bước nào tiến triển hơn. Vẫn một cách phê phán hồ đồ. Vẫn một lối chụp mũ bừa băi. "Theo ta" th́ được ca ngợi lên chín tầng mây. "Không theo ta" th́ bị đạp đổ, nhận ch́m xuống tận bùn đen... Với lối đối thoại như thế, tưởng không có ǵ cần phải bàn thêm nữa.
Nhưng mặt khác, có những tiếng nói hỗ trợ lại bắt đầu vang lên. Hầu hết là Phật tử, lâu nay bận bịu nhiều với công ăn việc làm, ít có thời gian để quán sát tường tận đầu đuôi, nhân quả. Lại cũng không thấy chư Tôn Đức trong Giáo Hội chính thức lên tiếng phân biệt. Chỉ nghe tuyên truyền một chiều. Nhất là đa số đồng bào vượt biên tỵ nạn hay đă trải qua nhiều năm trong lao tù gọi là "cải tạo". Cho nên bây giờ hễ nghe tới 2 tiếng "Cộng sản" là tức tốc nhảy dựng lên phải dẹp cho được phải đập cho tan. Đó là một phản ứng, bộc phát tự nhiên rất trung thực, rất cao quư. Nhưng lại vô t́nh rơi vào cái bẫy mà họ đă dự tính trước, giăng ra, hứng lấy, để kéo bà con về phe họ trong mưu đồ dùng Phật tử diệt Phật giáo!
Có nhiều bà con buồn bă than thở: Không hiểu v́ sao mà từ ngày thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đến nay, luôn luôn gặp đủ tai nạn. Từ thời Cộng Ḥa (1963), qua thời gian Cộng sản (sau 1975). Chịu hết nổi, phải trốn chạy thục mạng ra nước ngoài, t́m chút tự do. Nhưng khi được sống ở hải ngoại rồi, cũng không yên. Lại đủ thứ tai nạn rượt theo sau lưng. Và bây giờ họ c̣n ra rả gọi ḿnh là "Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tiếm danh" là nghĩa làm sao?
Kính thưa quư vị,
Nói về "tai nạn" của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ ngày ra đời (1964) đến nay chắc phải tốn không biết bao nhiêu tấn giấy mực và mất trọn nhiều năm tháng mới nói ra hết được. Nhưng trong phạm vi giới hạn của lá thư thứ hai này, chúng tôi cố gắng tóm lược để giúp bà con nắm được một vài ư chính:
1/- Về chữ tiếm danh :
T́m qua các bộ Tự Điển rất xưa, như Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1893), Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (khoảng 1920) cho đến các bộ Hán Việt Tự Điển, Từ Điển của Thiều Chửu, của Đào Duy Anh sau này. Tất cả đều giải thích chữ "Tiếm" gần như có 2 nghĩa : Một là mạo nhận, không phải của ḿnh mà nhận làm của ḿnh (như Tiếm danh, Tiếm vị...), hai là lấn chiếm, dùng sức mạnh hay quyền lực để lấn chiếm (như Tiếm ngôi, Tiếm quyền...).
Về nghĩa thứ Nhất "Tiếm danh" là mạo nhận danh tánh, danh xưng... không phải của ḿnh mà cho là của ḿnh với mục đích có lợi riêng. Ví dụ trong phạm vi thương măi. Có một nhăn hiệu rất được công chúng ưa chuộng. Món hàng ra sau, kém hơn, nhưng muốn được mọi người chiếu cố nên mạo nhận cùng một nhăn hiệu đă có trước, để bán được nhiều hơn...
Trở về thực tế của chúng ta ngày nay ở hải ngoại, có rất nhiều Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập không cùng một thời điểm. Nơi này lập trước, nơi kia lập sau. Có nơi lập đi lập lại hai ba lần. Cũng một danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chỉ khác vài chữ thêm vào phía sau cho đúng với thủ tục lập hội của mỗi quốc gia. Chẳng hạn vào năm 1988, thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ. Đến năm 1992, ra đời Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.
Nếu nói mạo danh, tiếm danh th́ Giáo Hội nào tiếm danh Giáo Hội nào? Nếu căn cứ theo thời gian thành lập trước và sau, th́ Giáo Hội nào có trước phải phàn nàn Giáo Hội ra đời sau là "tiếm danh" của ḿnh mới phải. Đàng này, trớ trêu thay, những Giáo Hội có trước không ai phàn nàn, trách móc ǵ cả? Mà ngược lại. Giáo Hội ra đời sau (1992, tức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ Văn Pḥng 2 Viện Hóa Đạo), lại to tiếng gọi các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đă có từ lâu ở các châu lục là "tiếm danh"? Không biết nghe cho thuận lỗ tai hay không? Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu châu thành lập vào năm 1990 (nghĩa là trước Giáo Hội Hoa Kỳ 2 năm) cũng bị Giáo Hội sau này dán cho cái nhăn "tiếm danh" to tổ bố!
Tưởng cũng nên nhắc lại một điểm nhỏ trong Quyết Định Số 27 ra ngày 10/12/1992 do Cố Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang lúc đó nhân danh Quyền Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kư tên công nhận sự thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hải ngoại tại Hoa Kỳ và nâng cấp Giáo Hội này thành Văn Pḥng 2 Viện Hóa Đạo. Trong Bản Quyết Định Số 27 này, ở phần cuối, có đoạn ghi như sau:
"Bản sao kính gởi :
"......
- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Âu Châu, Úc Châu, Canada v..v... để kính thông báo và liên lạc hỗ trợ".
Như thế th́ quá rơ ràng, các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở các châu lục đă có từ lâu và có những sinh hoạt riêng biệt trước khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ ra đời (1992).
Vậy ai tiếm danh ai? Và tiếm danh để làm ǵ? Mà có cái danh ǵ để mà tiếm? Người đă học Phật rồi chẳng lẽ không biết được những ư nghĩa căn bản này hay sao, lại phải nói đi nói lại với một vẻ trịnh trọng thật là khó chịu cho người nghe. Đă vậy mà c̣n dám đem chữ kư của quư Ngài Viện Trưởng, Ngài Phó Tăng Thống đặt vào các bản "Thông Bạch" chánh thức của Giáo Hội nói về chữ "tiếm danh" này. Tưởng không c̣n một ư nghĩa tôn kính ǵ cả.
Nếu chúng ta nhớ lại một câu chuyện lịch sử gần đây thôi, cũng có thể rút ra một bài học thấm thía. Đó là trước 1975, tại Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử lúc đó, cũng đă có 2 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Để phân biệt, dư luận báo chí lúc bấy giờ thường gọi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Việt Nam Quốc Tự) và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (Ấn Quang). Dường như cả hai, không bên nào dùng đến chữ "Tiếm danh" để gọi phía bên kia. Nhân chứng của cả hai Giáo Hội này là các bậc Tôn Túc hiện nay vẫn c̣n một số trong nước cũng như ngoài nước. Xin quư Ngài từ bi hỷ xả cho.
2/- Tại sao lại cứ phải dùng danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất?
Có người nghĩ rằng do dùng danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà gặp đủ thứ rắc rối phiền toái, sao không chọn lấy một tên gọi khác cho rồi. Ở một nước tự do mà, ḿnh muốn chọn tên nào, tùy ư thích, chớ có ai bắt buộc đâu. Miễn sao được yên ổn tu hành th́ thôi. Mặt khác, trong Giáo lư nhà Phật, c̣n biết bao nhiêu danh từ cao đẹp hơn nữa, chuyện ǵ mà cứ tranh chấp căi nhau quanh năm suốt tháng v́ một danh xưng?
Đúng vậy, kính thưa quư vị, v́ những rắc rối phiền phức đó, nên đă có một số quư Ngài, quư Hội, quư Giáo Hội... đă đổi danh xưng cho tiện việc sinh hoạt, mặc dầu trong ḷng không quên những t́nh cảm ràng buộc thiêng liêng với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Từ đó mà có ra nhiều danh xưng theo giáo lư, như Giáo Hội Từ Bi, Giáo Hội Bát Nhă... Theo lịch sử, như Giáo Hội Linh Sơn, Giáo Hội Vạn Hạnh... Theo tôn phái như: Giáo Hội Thiền Tông, Giáo Hội Tịnh Độ Tông...
Nhưng có một số chư Tôn Đức lại cứ muốn giữ nguyên danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, mặc dầu biết chắc chắn sẽ có nhiều rắc rối và sẽ gặp nhiều thứ đánh phá liên miên bất tận.
Dĩ nhiên cũng có những lư do đặc biệt của nó. Xin mạn phép tŕnh bày vài ư thô thiển như sau. Chắc chắn không đầy đủ cho lắm. Kính mong các bậc cao minh hoan hỉ bổ túc cho:
a/. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một biểu tượng để nhớ ơn.
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là một thành quả lịch sử của Phật Giáo Việt Nam do sự hy sinh cao cả của Bồ Tát Thích Quảng Đức và chư Thánh Tử Đạo cũng như tất cả Tăng Ni, Phật tử trong cuộc tranh đấu quyết liệt năm 1963 để lại cho chúng ta. Chúng ta không nên quên rằng nhờ cuộc tranh đấu này đưa đến Biến Cố lịch sử 1/11/1963 chấm dứt chế độ độc tài đàn áp Phật Giáo, hủy bỏ Đạo dụ số 10. Tăng Ni tín đồ Phật Giáo qua Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo lúc đó mới triệu tập Đại Hội Thống Nhất vào cuối năm 1963, đến đầu năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời (viết tắt là GHPGVNTN).
Từ năm 1964 đến năm 1975, chỉ trong ṿng 10 năm, Phật Giáo Việt Nam (riêng miền Nam thôi) đă được tự do phát triển như thế nào như chúng ta đă thấy. Và cho đến ngày nay, sau 35 năm (kể từ 1975) Cộng sản Việt Nam một chế độ độc tài khác tiếp tục t́m đủ mọi cách đàn áp, để tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mà vẫn không đạt được mục đích đen tối của họ. Được như vậy là do đâu nếu không có cuộc tranh đấu năm 63? Chúng ta đặt giả sử, nếu không có cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963 hoặc cuộc tranh đấu bị đàn áp khốc liệt đưa đến bỏ cuộc giữa đường, th́ hoàn cảnh của Phật Giáo Việt Nam lúc đó và bây giờ đă ra sao. Chắc chắn thế giới không ai biết tới Phật Giáo Việt Nam là ǵ và con cháu chúng ta lúc đó cho đến bây giờ chỉ biết Phật Giáo Việt Nam qua hệ thống giáo dục của thực dân để lại là một thứ mê tín thấp kém của một dân tộc bán khai mọi rợ cần phải dẹp bỏ.
Cho nên, ngày nay chúng ta được sống trong một xă hội tự do, cần phải ǵn giữ, nêu cao giá trị và danh nghĩa của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, trước là để nhớ ơn công lao hy sinh xây dựng của các bậc tiền bối, sau là để con cháu, lớp sinh ra sau này hiểu rơ nguồn gốc và diễn tiến của lịch sử Phật Giáo Việt Nam đối với dân tộc và đất nước.
Nhưng điều này không có nghĩa đă làm cho các thế lực vô minh hoàn toàn im tiếng, dừng tay đánh phá tiêu diệt Phật Giáo. Họ có đủ trăm phương ngàn chước, chỉ chờ cơ hội thuận tiện để tái phát mà thôi. Quư vị chỉ cần yên tĩnh một chút thử nh́n lại gần đây thôi, sau gần 50 năm là một thời gian tương đối khá đủ để thấy rơ và phê phán sự việc. Thế mà có những người, những tổ chức lợi dụng cơ hội Phật Giáo hải ngoại lúc này đang bị phân hóa trầm trọng, họ đưa ra những sự kiện của cuộc tranh đấu Phật Giáo Việt Nam năm 1963 và dán lên đó nhiều nhăn hiệu Cộng sản và Cộng sản. Ấy vậy mà cũng c̣n có nhiều người tin trong đó có một số Phật tử. Họ làm như vậy không phải không có dụng ư!
b/. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cần được thành lập rất nhiều ở hải ngoại để trả lời.
Nhất là sau năm 1981 Cộng sản Việt Nam đă lập xong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam rồi, họ thẳng tay đàn áp để xóa sổ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước. Cộng sản Việt Nam chánh thức đưa Ḥa Thượng Thích Huyền Quang về Quảng Ngăi (miền Trung), đưa Ḥa thượng Thích Quảng Độ về Thái B́nh (miền Bắc) quản chế ngặt nghèo trong những ngôi chùa tỉnh, chùa quê, không cho sinh hoạt.
Họ c̣n đưa ra một điều ngăn cấm quái gỡ cho một ông thầy tu: "cấm không được hoạt động Tôn giáo". thế th́ ông thầy tu c̣n làm được ǵ khi không được hoạt động Tôn giáo? Tất cả cơ sở giáo dục, xă hội, từ thiện, tôn giáo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đều bị nhà nước cộng sản tịch thu rồi giao lại một phần cho Giáo hội nhà nước.
Trong hoàn cảnh nghiệt ngă như thế, không c̣n nơi nào trong nước được hoạt động, được nói tới danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Chính v́ vậy, cũng từ năm 1981 trở đi, ngoài nước bắt đầu cho ra đời Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nơi này hay nơi kia, càng nhiều càng tốt... Cốt yếu nhằm trả lời: Này Cộng sản Việt Nam ơi, chúng tôi vẫn c̣n đây. Các ông có ra sức tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nham hiểm độc ác thế nào đi chăng nữa, cũng vô ích thôi. C̣n chúng tôi đây, c̣n đồng bào Phật tử ở hải ngoại đây không bao giờ để yên cho Cộng sản Việt Nam các ông muốn làm ǵ th́ làm... Bởi vậy mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mới nở rộ khắp nơi ở các châu lục. Nơi nào có người Việt Nam tỵ nạn, nơi đó có tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời. Thành lập không cần phép tắc, không cần phải thưa gởi. Phép tắc với ai? Thưa gởi với ai? Các Ngài đă vào nhà tù cả rồi. Không cho viết được một văn thơ, con dấu của Giáo Hội bị họ thủ tiêu mất rồi. Nhưng chắc chắn, khi các Ngài ở trong tù mà nghe được tin có một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập ở bất cứ nước nào đó trên thế giới là các Ngài vui rồi, mừng rồi. Đâu cần phải tŕnh thưa báo cáo, lôi thôi, vô ích. Chính đó là lư do chánh đáng là nguyện vọng thiết thực là nền tảng căn bản cho tất cả các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tự động thành lập khắp năm châu bốn biển. Dĩ nhiên là nơi nào cũng phải theo đúng thủ tục pháp lư lập hội của địa phương đó.
Bởi thế cho đến năm 2007, khi nhóm phá hoại đă xâm nhập vào được cơ cấu trung ương của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước rồi, họ nghĩ rằng chỉ cần ra một Giáo Chỉ số 9 và một Thông Bạch số 9 có chữ kư của nhị vị Đại Lăo Ḥa Thượng là có thể giải tán tất cả các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở hải ngoại.
Họ đă lầm to. Điều này chứng tỏ nhóm phá hoại từ bên ngoài mới xâm nhập vào nên không hiểu biết những ǵ đă diễn tiến từ trước của các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở hải ngoại.
3/- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài là ai?
Đặt câu hỏi như thế này, nghe cũng hơi lạ lạ. Nhưng trên thực tế, kính thưa quư vị, có nhiều trường hợp hiểu sai lạc một cách kinh khủng. Không phải người thường nói mà là văn thơ của Giáo hội nói một cách chánh thức. Cho nên buộc ḷng chúng tôi phải đặt lại vấn đề cho minh bạch hơn. Mong quư vị thông cảm mà hoan hỉ cho.
Trong một Thông Bạch mang chữ kư của Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Quảng Độ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đề ngày 24/08/2008 trong đó, có một đoạn nói về các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở hải ngoại như sau :
“......
- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Canada của Thượng Tọa Thích Bổn Đạt.
- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải ngoại tại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan của các vị Ḥa Thượng Thích Như Huệ, Ḥa Thượng Thích Bảo Lạc, Thượng Tọa Thích Quảng Ba v..v...
- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu châu của Ḥa Thượng Thích Minh Tâm...”
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không là "của riêng" của một người nào! Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là di sản thiêng liêng quư báu mà các bậc Tổ Sư tiền bối, Bồ Tát Thích Quảng Đức và chư Thánh Tử Đạo đă để lại cho chúng ta qua cuộc tranh đấu năm 1963. Chúng ta chỉ là người thừa hành trong một giai đoạn nào đó của Giáo Hội. Đúng hay sai là do con người chứ không phải tại Giáo Hội. Người ta có thể phản đối con người làm sai chứ không thể phản đối Giáo Hội.
Quư vị đă và đang sống ở các nước tự do. Nước Pháp có Hiến Pháp của nước Pháp, nước Mỹ có hiến pháp nước Mỹ. Vị Tổng Thống được dân bầu lên theo Hiến Pháp. Dân chúng có quyền ủng hộ hay phản đối vị Tổng thống chứ không phải phản đối Hiến Pháp nước đó. Có ai lại nói rằng phản đối Tổng Thống Sarkozy là chống lại nước Pháp hay là phản đối Tổng Thống Obama là chống lại nước Mỹ. Lư luận như vậy nghe có lọt lỗ tai không?
Nếu ta nói nước Pháp "của" ông Sarkozy, nói nước Mỹ "của" ông Obama, th́ người Pháp hay người Mỹ sẽ xem ta là người thế nào? Có b́nh thường không? Ấy vậy mà vẫn hiện diện trên văn thơ chánh thức của Giáo Hội đàng hoàng!
Qua những chứng cứ nêu trên, chúng tôi có thể xác định rằng những Văn thơ Thông Bạch có lối văn "lạ lùng" như thế này lại gán cho Ḥa Thượng Viện Trưởng hạ bút kư ban hành là một sự phạm thượng, bất kính, coi thường trí tuệ của một bậc lănh đạo tối cao của Giáo Hội.
Kính thưa quư vị,
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập từ đầu năm 1964 có Hiến Chương đàng hoàng. Trong bản Hiến Chương có ghi rơ cơ cấu tổ chức, gồm 2 Viện: Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Có nhiệm kỳ, có ứng cử, bầu cử v.v... Bản Hiến Chương hiện đang lưu hành là Bản tu chỉnh lần thứ 3 sau Đại Hội Khoáng Đại Kỳ 5 ngày 12/12/1973 tại Sàig̣n. Từ đó đến nay không có tu chỉnh ǵ thêm, kể từ sau Đại Hội cuối cùng là Kỳ 7 vào năm 1977 ở trong nước.
Theo Hiến Chương, Viện Tăng Thống có Đức Tăng Thống do Hội Đồng Giáo Phẩm suy tôn trong hàng Trưởng Lăo của Hội Đồng. Nhiệm kỳ của Đức Tăng Thống là trọn đời (Chương 4, điều 9). Viện Hóa Đạo điều hành bởi một Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo (trong đó có Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Tổng Thơ Kư và 8 Tổng Vụ) do Hội Đồng Giáo Hội Trung Ương đề cử, Đại Hội bầu cử và Đức Tăng Thống tấn phong (chương 4, điều 18). Nhiệm Kỳ của Viện Hóa Đạo và các ban Đại Diện các cấp là 2 năm (chương 4, điều 27)...
Đó là nói theo Hiến Chương (Bản tu chỉnh lần thứ 3, năm 1973). Đến nay, gần 40 năm trôi qua t́nh h́nh thực tế đă thay đổi nhiều. Nhưng Đại Hội chưa tổ chức được thành ra Hiến Chương chưa được tu chỉnh cho hợp với hoàn cảnh hiện tại.
Nhưng nói ǵ th́ nói, Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo được điều hành bởi Ngài Viện Trưởng vẫn là người chịu trách nhiệm trong nhiệm kỳ của ḿnh trước Giáo Hội và thay mặt Giáo Hội trước pháp lư. (Chương 4, điều 19).
Như thế đă quá rơ ràng, Giáo Hội lấy bản Hiến Chương làm nền tảng. C̣n chư Tôn Lănh Đạo là những vị Tôn Túc chịu trách nhiệm trong mỗi nhiệm kỳ của ḿnh. Không thể đồng hóa Giáo Hội cho một vị nào. Nói cụ thể, không thể có chữ "của" lôi thôi, lộn xộn đi liền sau chữ Giáo Hội mà nhiều người hiện nay đang dùng (hay cố ư dùng) một cách sai lầm tai hại.
4/- Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài ở đâu?
Nói đến Giáo Hội, dĩ nhiên là mọi người phải nghĩ đến Đức Tăng Thống, Ngài Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Hội Đồng Lưỡng Viện đương nhiệm do Đại Hội Đồng bầu ra hay thỉnh cử suy tôn. Bởi lẽ chính quư Ngài là những người nắm lấy vận mệnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nhiệm kỳ của ḿnh và chịu trách nhiệm trước Giáo Hội cũng như thay mặt Giáo Hội trước pháp lư.
Nhưng trên thực tế, không phải chỉ có chư Tôn Đức trong Hội Đồng Lưỡng Viện hay Ban Chỉ Đạo Viện Hóa Đạo hiện nay mới là những người có trách nhiệm trước sự tồn vong của Giáo Hội. Mà, như trên đă có nói, có nhiều vị v́ hoàn cảnh đặc biệt, không muốn gặp rắc rối măi v́ một danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, nên họ phải phương tiện đổi sang tên khác cho sinh hoạt Phật sự được yên ổn. Nhưng tâm tư vẫn hướng về Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Cụ thể như Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Tâm Châu. Ngày nay, Ngài là Thượng Thủ trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trên thế giới. Nhưng Ngài đă là một trong những vị tranh đấu quyết liệt của thời kỳ 1963, là một trong những sáng lập viên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và cũng là vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đầu tiên của Giáo Hội này. Cho nên nói Ngài không c̣n liên hệ ǵ với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nữa hay có một câu nói thẳng thừng rằng "xin Ngài đừng đụng vào việc nội bộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của chúng tôi". Tưởng không c̣n một lời nói nào bạc bẽo, phủi ơn hơn nữa. Trường hợp của Cố Ḥa Thượng Thích Huyền Vi, Tăng Thống Giáo Hội Linh Sơn trên thế giới. Cố Ḥa Thượng Thích Măn Giác, Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng y như vậy. Quư Ngài đều đă nắm giữ những chức vụ quan trọng trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất khi c̣n ở trong nước. V́ hoàn cảnh đặc biệt phải đi ra hải ngoại và giữ những trọng trách ở một Giáo Hội khác. Nhưng tâm tư luôn luôn không rời khỏi con đường lư tưởng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Và ngay cả những vị, ngày xưa trong thời gian tranh đấu 63, 64, 65 c̣n rất trẻ, chưa giữ một vai tṛ quan trọng nào vào thời đó, nhưng lại là những người tích cực hăng say trong các vai phụ tá cho các bậc Tôn Túc, cũng lăn xả vào các cuộc xuống đường "hít" lựu đạn cay hay bị "hốt" vào trại giam Rạch Cát trong đêm giới nghiêm 20/08/1963 hoặc thức thâu đêm suốt sáng để làm thị giả cho quư thầy trong những giờ phút căng thẳng của Đại Hội Thống Nhất để h́nh thành Bản Hiến Chương đầu tiên cho Giáo Hội vào cuối năm 1963. Ngày nay, chư vị Tăng "trẻ" ấy đă trở thành các bậc Tôn Túc Trưởng Lăo. Tuy không c̣n sinh hoạt trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nữa nhưng lại rất xót xa khi nh́n thấy Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngày nay, bị chia năm xẻ bảy, bị đánh phá tứ tung. Đó là tâm tư của Ḥa Thượng Thích Trí Tuệ (trong Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam - Hoa Kỳ), mà chúng tôi mới gặp lại gần đây tại ngôi chùa của thầy ở vùng Virginia (Hoa Kỳ).
Chúng tôi nghĩ rằng Ḥa Thượng Thích Trí Tuệ không phải là một trường hợp duy nhất. Mà chắc chắn c̣n rất nhiều chư Tôn Đức Trưởng Lăo khác nữa cũng cùng một tâm tư nặng trĩu như thế, ở ngoài nước cũng như ở trong nước.
Cho nên nếu chúng ta coi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chỉ gồm có các bậc Tôn Túc đương nhiệm hay chỉ những ai c̣n nằm trong danh sách của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện thời mà thôi, th́ vô t́nh chúng ta đóng khung, giới hạn, co cụm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong một nhóm nhỏ mà hủy bỏ đi cả một tập thể một đại đa số, tuy không mang danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất nhưng tâm tư của họ không xa ĺa con đường lư tưởng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất từ ngày ra đời. Đó là kết hợp để phát huy đạo pháp và phụng sự dân tộc.
Lá thư khá dài, làm mất nhiều thời gian của quư vị. Chúng tôi xin mạn phép trích một đoạn trong lời mở đầu của Bản Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất để làm kim chỉ nam là con đường lư tưởng mà các bậc tiền bối đă trọn đời hy sinh để thực hiện. Và dĩ nhiên, các bậc Tôn Túc đương nhiệm cũng không thể đi xa rời khỏi con đường này :
".....Quan niệm Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam được thể hiện theo chủ trương điều hợp, nghĩa là giáo lư, giới luật và nếp sống của các tông phái cũng như của hai giới Tăng sĩ và cư sĩ chẳng những được tôn trọng mà c̣n nỗ lực phát triển trong sự kết hợp có chỉ đạo. Đó là sắc thái đặc biệt của nền Phật Giáo thống nhất tại Việt Nam".
Kính thưa quư vị,
Trở về Ngày Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư (tức ngày Về Nguồn lần thứ 4), chúng ta chỉ c̣n 2 tuần lễ nữa. Sau khi lá thơ thứ nhất gởi đi, chúng tôi đă nhận được sự hưởng ứng đông đảo của chư Tăng Ni và bà con Phật tử trong vùng Âu châu. Đó là một khích lệ to lớn đối với Ban Tổ chức địa phương (Đức quốc) cũng như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu châu. Chúng tôi xin nhắc lại một vài điểm chính:
Chư Tôn Đức Tăng Ni từ các châu khác đến cũng như Tăng Ni ở Âu châu không có phương tiện di chuyển riêng, có thể liên lạc về 3 nơi để từ đó có xe ca đưa về Tu Viện Viên Đức (Đức) trong ngày 16/09/2010 đến dự lễ Hiệp Kỵ:
- Chùa Viên Giác (Hannover - Đức) tél : 00.49 (0) 511 879 630.
- Chùa Trí Thủ (Bern - Thụy Sĩ) tél : 00.41 (0) 31 911 9466.
- Chùa Khánh Anh (Bagneux – Pháp) tél : 00.33 (0) 46 55 84 44.
Chư Tăng Ni và bà con Phật tử trong vùng Âu châu có phương tiện riêng có thể trực tiếp đi thẳng về Tu Viện Viên Đức theo địa chỉ :
Rebholz str 36
88214 Ravensburg
Germany
Tél : 00.49 (0) 751 769 5186
Theo Ban tổ chức, chư Tôn Đức Tăng Ni lưu trú tại khách sạn (gần chùa), bà con Phật tử ở Hội trường. Ăn uống tại Tu Viện. Sinh hoạt 2 ngày trước tại khách sạn Lễ Hiệp Kỵ vào ngày chủ nhật 19/9 tại Tu Viện Viên Đức. 14 giờ chủ nhật, hoàn măn. Nghe đâu, một số chùa có tổ chức xe ca, xe van hay nhiều xe nhà để đi về dự lễ. Bà con nào muốn đi, trước hết, xin liên lạc với chùa nào gần ḿnh nhất thử xem. Nếu không có th́ liên lạc về một trong 3 chùa, như trên đă nói.
Riêng chiếc xe ca từ chùa Khánh Anh, đă gần hết chỗ. Chư Tăng Ni và bà con Phật tử nào muốn ghi tên, xin liên lạc gấp về chùa. (Xin nhắc lại Tăng Ni: miễn phí, bà con Phật tử xin góp phần 50€ và nhớ đem theo túi ngủ).
Tại Đức, bà con Phật tử được kêu gọi về tham dự rất đông. Trước là tham gia vào các ban trai soạn (lo việc ẩm thực trong 3 ngày lễ), ban trần thiết (lo thiết trí, trang hoàng cho ngày lễ), ban vận chuyển, ban âm thanh... Các Huynh Trưởng và Gia Đ́nh Phật Tử lo vấn đề trật tự và giúp đỡ các ban khác. Ngoài chương tŕnh hội thảo về Lịch Đại Tổ Sư (đă dự định trước) có thể có chương tŕnh hội thảo cho giới Phật tử cư sĩ.
Phật tử nước ngoài về tham dự, ngoài các thời khóa công phu bái sám đặc biệt tại Tu Viện có thể tham gia vào các ban sinh hoạt khác tùy theo khả năng của ḿnh. Chương tŕnh giỗ Tổ, Cung tiến Giác Linh do Ban Nghi Lễ phối hợp đặc biệt của chư Tăng Ni đảm trách, sẽ thực hiện tại Tu Viện vào sáng chủ nhật 19/9.
Với đại đa số Phật tử c̣n bận phải đi làm trong tuần, xin kêu gọi trở về Lễ Hiệp Kỵ trong 2 ngày thứ Bảy và Chủ nhật (18 và 19/9) tham dự các khóa lễ đặc biệt tại Tu Viện. Trong tinh thần uống nước nhớ nguồn, tưởng niệm ân đức của Lịch Đại Tổ Sư và chư Thánh Tử Đạo.
Về phần cúng dường Ngày Hiệp Kỵ và Lễ Trai Tăng, như trong lá thơ thứ nhất đă nêu ra, trước hết quư thầy ở Âu châu đề nghị mỗi chùa cúng dường căn bản là 500€. Danh sách sơ khởi cho biết : Chùa Vạn Hạnh (Ḥa Lan) 500€, Chùa Phật Quang (Thụy Điển) 500€, Chùa Thiện Minh (Lyon) 500€, Chùa Trí Thủ (Thụy Sĩ) 500€, Chùa Tam Bảo (Na Uy) 500€, Chùa Từ Đàm (Anh quốc) 500€, Dược Sư Phật Đường (Anh quốc) 500€, Chùa Khánh Anh (Paris) 1.000€,... (c̣n tiếp)
Chư Phật tử có thể đem theo phẩm vật về cúng dường Lịch Đại Tổ Sư và lễ Trai Tăng.
Kính thưa quư vị,
Thời gian đi qua rất nhanh mà phật sự th́ liên miên bất tận, nhất là trong vùng Âu châu. Khóa tu học Phật Pháp Âu châu Kỳ thứ 22 vừa mới đi qua 1 tuần lễ là bước vào mùa Vu Lan Báo Hiếu. Vừa kết thúc mùa báo hiếu lại chuẩn bị cho lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư...
Phật sự càng nhiều th́ chướng duyên càng lắm. Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng. Nếu không có chư Phật, Bồ tát chứng minh gia bị, long thiên thánh chúng hộ tŕ th́ chúng ta không làm sao vượt qua nổi đủ thứ chông gai trở lực: bên ngoài ma vương đánh phá, bên trong nội trùng xâm nhập.
Kính chúc chư Tôn Đức pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, toàn thể Phật tử tâm bồ đề kiên cố, đạo nghiệp tiến tu, viên thành Phật sự.
Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bagneux, ngày 28/08/2010
Ḥa Thượng Thích Minh Tâm
Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu
Chánh Văn Pḥng Điều Hợp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu
Trưởng Ban Điều Hợp Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại.
CHÙA KHÁNH ANH
14 Av Henri Barbusse. 92220 Bagneux (FRANCE) Tél : 01 46 55 84 44. Fax : 01 47 35 59 08. E-mail : khanhanh@free.fr